Tư vấn dịch vụ
0981 419 189

Tư vấn vật phẩm
0933 299 189

Trang chủ / Pháp Cụ / THƯỚC LẬP CỰC 36 TẦNG ( chuyên dùng cho bảng vẽ)
  • Sản phẩm được khai quang, nạp tinh, điểm nhãn
  • Được lựa chọn vị trí và thời điểm đặt để
  • Phù hợp với các tiêu chí phong thủy thuần Việt
  • Nguyên liệu đầu vào được tuyển lựa có chất lượng cao, đồng nhất
250.000 đ

-  Thước lập cực 36 tầng ứng dụng thực tế cho bản vẽ trên giấy

-  Chất liệu: Mica

-  Ứng dụng: Dùng trong thiết kế xây dựng nhà ở, văn phòng, bố trí cách cục nhà, bỗ trí vật dụng trong các phòng ốc...

 
Mua Ngay
Thêm vào giỏ hàng
Hotline: 0933 299 189 Tư vấn miễn phí: 09h00 - 22h00 (T2 đến T7)
Thông tin sản phẩm
CÔNG DỤNG CỦA THƯỚC LẬP CỰC 
 
- Là dụng cụ đo đạc hữu ích dành trên bản vẽ chi tiết.
- Cung cấp các thông tin sau để xem được hướng nhà, hướng mộ,…
 
2018_10_12_5828f2093f.jpeg
 
THƯỚC LẬP CỰC TỔNG HỢP 36 TẦNG LA KINH
 
Thước lập cực phong thuỷ Tam Nguyên chứa đựng toàn bộ kiến thức của phái Tam Hợp. Đây là một loại công cụ, thiết bị để xác định hướng độ, năng lượng đón nhận của một đối tượng cần xem xét.
 

-  La bàn Huyền Không Phi Tinh

-  La bàn Huyền Không Đại Quái 64 Quái

-  Thông tin Thế Quái.

-  Thông tin Mệnh Quái Năm Sinh Nam Nữ.

-  La bàn 72 Xuyên Sơn Long.

-  120 Long

-  24 vòng la bàn

-  Thiên bàn – nhân bàn – địa bàn 

-  Nhị thật bát tú

-  Phong thuỷ Tam hợp

-  60 thấu địa long

-  Nội ngoại bàn

-  64 quẻ huyền không đại quaí

 
2018_10_12_b789bfbb03.jpeg
Thước lập cực phong thủy Tam Nguyên
  1. Độ chính xác khi phân cung.
  2. Thiết kế dựa trên kiến thức và chuyên gia chuẩn quốc tế (đội ngũ kiến trúc sư, chuyên gia phong thuỷ và thầy Tam Nguyên ).
  3. Thước lập cực phong thủy tiếng Việt cho người Việt sử dụng.
  4. Nguyên liệu đẹp, trong để nhìn rõ khi phân cung và bền khi sử dụng.
  5. Sách hướng dẫn sử dụng sản phẩm la kinh phong thuỷ tiếng Việt - Bộ La Kinh Thấu Giải (nếu khách hàng có nhu cầu tham khảo thêm thông tin về  La Kinh Ngọc Phúc Đường - Tam Nguyên  khi mua thước lập cực )

 

2018_10_12_e0e310fd07.jpeg

MỤC LỤC CÁC TẦNG CỦA THƯỚC LẬP CỰC

 

  • Tầng 1 - Là Tiên Thiên bát Quái biến thành Hậu Thiên Bát Quái. Tiên Thiên làm cái bản thể, Hậu Thiên làm cái sử dụng. Dùng Hậu Thiên không được phá Tiên Thiên, chỉ dùng Hậu Thiên chứ không dùng Tiên Thiên, nhưng vẫn có Tiên Thiên ở bên trong.

 

  • Tầng 2 - Lạc Thư biến thành Tứ Tượng. Hóa Hậu Thiên thành Cửu Tinh (9 sao), chia Lục Giáp thành 120 phân kim, ngang dọc 16 cái và 5 số.

 

  • Tầng 3 - Bát Quái Hoàng Tuyền, tức là Quan và Quỹ của Tiên Thiên Bát Quái, hòa hợp với Ngũ hành để sử dụng trong việc: Long thời kỵ Thủy lai, Lập Hướng thì kỵ khắc Long.

 

  • Tầng 4 - Là tứ lộ và Bát lộ Hoàng Tuyền bạch Hổ (tức sao sát) của Địa Chi, quay đi trở lại. Hướng về Bát can thì kỵ Tứ duy Thủy lai , Hướng Tứ duy thì kỵ bát can Thủy lai; nghĩa là 4 phương Hoàng Tuyền, 8 phương Khắc Sát, l nước chảy đi thì tốt, nước chảy lại thì xấu. Nếu phạm thì hao người tốn của.

 

  • Tầng 5 - Cửu tinh ứng vào cục đất để phân biệt Long tốt xấu, coi sắc đất biến đổi mà tìm Huyệt, tương ứng với thứ vị của 24 vì Thiên tinh mà lấy dùng.

 

  • Tầng 6 - Kim chính thức của Địa bàn dùng để xem Long lai, định hướng, thừa khí nhập Huyệt; Lập Trạch, An Phần chọn âm dương. Tóm lại, cả 36 tầng đều căn cứ ở tầng này vận chuyển mà sử dụng.

 

  • Tầng 7 - Âm và Dương Long của Tiên Thiên Bát Quái, Kiền Nam, Khôn Bắc, Ly Đông, Khảm Tây, ở 4 phương chính là Dương, Chấn, Tốn, Cấn, Đoài ở 4 phương góc tức là Tứ Duy của Tiên Thiên là Âm. Mỗi quái Nạp Âm đều có Can và Chi là nửa Âm, nửa Dương. Phép biến Thủy không được sai lầm về Âm Dương.

 

  • Tầng 8 - Chính Ngũ Hành, tóm hết thảy cả trong địa bàn, nguồn gốc là do Hà Đồ mà ra, phân Đông Tây Nam Bắc, 24 sơn và sự tương khắc của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để sử dụng.

 

  • Tầng 9 - Là Kiếp sát, lấy Tọa Sơn làm chủ, chỉ kỵ 1 sơn xấu, hoặc nghiêng ngã, vỡ lỡ thôi, còn tốt thì không kỵ.

 

  • Tầng 10 - Là 72 Long Xuyên Sơn, ở trong Địa Bàn ghi 60 Giáp Tý, trong 5 cung Tý có 12 chữ chính màu đỏ là để chỉ 4 phương tứ duy và 8 phương bát can, thấu thành 72 Long, lấy lẽ Long Nhập Thủ thừa tiếp với thấu địa khí 1 mạch rót suốt vào Huyệt, và để phù hợp với 72 thời tiết mỗi năm.

 

  • Tầng 11 - Xuyên Sơn làm quẽ gốc, sách Chu Dịch gọi là Thiên Thông. Trong Kinh Dịch lấy quẻ Kiền làm đầu, nói: Thiên Địa biến hóa ra quái, hào để bổ trợ cho Lai Long; Tọa Huyệt là chủ của Thể, Dụng.

 

  • Tầng 12 - Là Trung Châm thuộc về Nhân Bàn, tham hợp với Thiên-Địa 2 bàn, là ThiênĐịa-Nhân tam tài. Ông Lại Công lấy để Tiêu Sa và tham hợp với Ai Thiên Tinh và Nhị Thập Bát Tú, để làm biểu lý , bàn về Thái Dương đáo Sơn, và 12 vị Tiến Xá Tinh; và đến 12 cung phân ranh giới 24 vị Thiên Tinh, Thấu Địa Kỳ Môn, tất cả đều do tầng Trung bàn này thông dụng.

 

  • Tầng 13 - Là 60 Long Thấu Địa. gọi là Thiên Kỷ, ở phía sau ngôi mộ hay là ngôi nhà khoảng 8 thước chỗ Loan Đầu phân khí dẫn suốt tới. Có các chữ Vượng, Tướng, Châu Bảo, sát Diệu , Hỏa Khanh, Cô Hư, Sai Thác và Không Vong, để phân biệt lấy quẽ xung hòa 9x6= 54 là Vượng Tướng, không xung hòa là Không Vong.

 

  • Tầng 14 - Là Thấu Địa Kỳ Môn, người ta lấy 2 quẽ độn Tử Phụ, Tài Quan, Lộc Mã Quý Nhân, Âm Dương làm gốc để khởi lệ.

 

  • Tầng 15 - Là Thấu Địa Quái, lấy Thấu Địa làm nội quái, gọi là quẽ Liên Sơn. Nhà Hạ dùng Nhân Thông, nên Kinh Dịch lấy quẽ Cấn làm đầu, quẽ phối thì lấy Hỗn Thiên Ngũ Hành, phối hợp với quẽ Tử Phụ, Tài Quan, Lộc Mã Quý Nhân là Tứ Cát (4 cái tốt) của Sa, Thuỷ làm đắc dụng.

 

  • Tầng 16 - Là Thấu Địa 60 Long phối hợp với 28 ngôi sao, ngũ thân (5 cái gần) Sa, Thủy, Cầm Tinh, để quản cục trì thế, một cách tự nhiên mà dùng.

 

  • Tầng 17 - Định phương vị của Tứ Cát là: Ngũ Thân, Tam Kỳ, Bát Môn, Cửu Tinh đáo Sơn.

 

  • Tầng 18 - Là Phùng Châm Thiên Bàn để biến Thủy Lai và Khứ. Đây là quẽ phiên của Dương Công, gồm có có 9 sao là Thiên Phụ Quái, phiên: Bật, Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn làm Cát, Hung thần, để đoán phúc họa do ở luật Tịnh Âm, Tịnh Dương mà ra.

 

  • Tầng 19 - Là 240 phân số, do Lạc Thư chia ra 16 cái, 15 số dọc, ngang thành 240 phân số, chia cho 24 sơn, mỗi sơn 10 số. Đây là nguồn gốc của phân kim.

 

  • Tầng 20 - Tầng Địa bàn phân kim, gia giảm 2 phân, 8 phân (2/8) : giảm Sa, Thủy, Minh Đường không ngay, Khắc Mệnh, Khắc Long, vì vậy mới có sự gia giảm bên 3 phân, bên 7 phân (3/7).

 

 

  • Tầng 21 - Là tầng Thiên bàn phân kim, gia, giảm tam, thất (3/7). Mỗi Sơn có 5 chữ phân kim, như Tý Sơn thì có: Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý, thì Giáp Ất là Cô; Nhâm Quý là Hư; Mậu Kỷ là Sát; Bính Đinh là Vượng; Canh Tân là Tướng; để tránh sự gác giây, sai lầm vào Không Vong...vv..thì tai hại lắm!

 

  • Tầng 22 - Là phân biệt khoảng Vượng, Tướng, Cô, Hư. Lấy Bính, Đinh, Canh, Tân, chỉ vào khuyên chữ đỏ là Vượng Tướng. Mậu Kỷ chỉ chữ Thoa (X) là sát diệu Giáp, Ất, Nhâm, Quý chỉ điểm đen là Cô, Hư, Không, Vong.

 

 

  • Tầng 23 - Là phân kim phối với Địa Nguyên, thuộc quẻ Ly tàng, là quẻ ở ngoài. Nhà Ân dùng Địa thống, nên Kinh Dịch lấy quẻ Khôn làm đầu. 60 quẻ phối với 60 phân kim, lấy quẻ Kim lưỡng toàn làm Vượng, Tướng, gọi là Đắc Kim. Ngoại trừ 4 quẻ Khảm, Ly, Chấn Đoài, là quẽ Tiên Thiên chính thức ứng với 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa giữ 1 quẻ, mỗi quẻ 6 hào, mỗi hào gồm 15 ngày (4x6=24) , 24 hào gồm 24 tiết khí, ngoài 60 quẽ, mỗi tháng 5 quẽ, mỗi quẽ 6 ngày (6x60=360), nên mỗi năm có 360 ngày.

 

  • Tầng 24 - Là Nạp Âm Ngũ Hành, 60 Giáp Tý, Thiên Can, Địa Chi phối hợp, do Tiên Thiên Bát Quái lấy Nạp Giáp phối. Ngoại trừ quẽ Kiền và quẽ Khôn là Đại Phụ Mẫu không kể, nếu Thiên Can gặp Tý, Ngọ, Sửu, Mùi tại Chấn, Tốn, sẽ do 2 quẽ suy luận; Thiên Can gặp Dần, Mẹo, Thân, Dậu tại Khảm, Ly sẽ do 2 quẻ suy luận; Thiên Can gặp Tuất, Hợi, Thìn, Tị tại Cấn, Đoài sẽ do 2 quẻ suy luận; Theo phương pháp Dụng, lấy 9 Mộc, 7 Kim, 5 Thủ, 3 Hỏa, 1 Thổ. Đặt tại cửa đầu kim, phải biết ý nghĩa sâu xa.

 

  • Tầng 25 - Là phương vị của 12 cung, nếu được Tinh phong đẹp đẽ, Sa -Thủy trong sáng, được chứng ứng ở phương nào, thì cung ấy phát quý, hưởng lộc.

 

  • Tầng 26 - Là vị trí của 28 ngôi sao, ngôi nào đóng ở độ số nào, thì ứng với tỉnh, châu, thành, huyện ở cung ấy (ở dưới đất).

 

  • Tầng 27 - Là 24 khí tiết của hàng tháng đón Thái Dương đến cung, tránh Hung sát, tìm Tốt lành: tức là cung Trục Nguyệt, lấy 4 cái Đại Cát Thời làm Thần Tàng sát để Tạo, Táng, thì được Thượng Cát (tốt trên hết).

 

  • Tầng 28 - Là vị trí của 12 Tướng Đăng Minh, đón Thái Dương đến cung, nửa tháng tới 1 Sơn, mỗi tháng qua 1 cung, đi ngược lại 24 sơn, tức là cung Đăng Minh.

 

  • Tầng 29 - Là 12 vị tinh thể Nghinh Thái Dương đáo cung triều xá, mỗi tháng giửa kỳ khí tiết, để rước Quý Nhân lên Thiên môn.

 

  • Tầng 30 - L cung xá quán dịch, tức Thần Thái Dương. Đem văn, võ bá quan đến chỗ chân thủ, mỗi tháng cùng Thái Dương qua 1 cung, tạo táng gặp ở cung này rất tốt, mọi cái sát tiềm tàng hết.

 

  • Tầng 31 - Là 24 ngôi Thiên Tinh chiếu vào cục đất, chia ra Tam Cát, Lục Tú, Cửu Tinh; Sa, Thủy Thôi Quan, phát phúc. Nếu được Sơn quý tất xuất Đại Cát Quý. Tiên Thánh nói: Long lấy xung hòa làm đẹp; Tinh lấy được phối làm tốt, chính chỗ này vậy.

 

  • Tầng 32 - Là Hỗn Thiên Ngũ Hành tinh độ, tại 28 vì sao, chia làm Thất Chính (7 vị Chủ tinh) đều có định, sở, thuộc 1 sao; cũng có ngũ hành ở trên: Kim 12, Mộc 13, Thủy 12, Hỏa 12, Thổ 12, cộng có 61 vị. Duy có cung Cấn là nhiều thêm chữ Mộc. Đây là Ngũ Tinh Đăng Viên (5 sao đến cục), Ngũ hành cùng với Xuyên sơn, Thấu địa, Phân kim, sự Cát, Hung cùng là cái ở trong, cái ở ngoài, lại hợp với 72 khí tiết, 365 độ trong 1 năm.

 

 

  • Tầng 33 - Là chia đều 60 Long, tham hợp với 61 Hỗn Thiên (tức Hỗn Thiên Ngũ Hành), mỗi chữ 1 Long, mỗi chữ quản 6 ngày, thành ra 365 ngày 3 giờ, để ứng với 72 thời tiết của độ số trong 1 năm. Địa bàn căn cứ vào đó căng giây, Phân kim, Thấu địa, Toa huyệt mà dùng. Trong sách Ngỏa Vương hợp tượng cát thư, còn có 24 sơn Thấu Địa Long, thừa khí nhập huyệt.

 

  • Tầng 34 - Là ngang, dọc độ số của 28 sao, hợp với Nhân bàn có 365 vạch. Trong giới hạn độ số của mỗi sao, chia ra Thượng quan, Trung quan, Hạ quan (quan là cửa) để dùng làm cung vị Tiêu sa, là phép của Ai tinh.

 

  • Tầng 35 - Là định sự Sai thác và Không vong, có điểm đỏ, chấm đen để gát dây Phân kim, cùng với Xuyên sơn, Thấu địa làm cái ở trong, cái ở ngoài liên quan nhau. Khi giăng dây Phân kim phải đặt trên điểm đỏ, không được đặt vào điểm đen, nếu lọt vào khoảng của chấm đen một nửa sợi tơ tóc là hỏng.

 

  • Tầng 36 - Là 28 sao phối hợp với 24 sơn, và Trung châm Tiêu sa của Nhân bàn, gọi là phép Ai tinh. Lấy sao của sơn Tọa Huyệt làm chủ; lấy sao ở đằng trước làm Hướng; và tả, hữu làm Khách. Huyệt trường là Ngôi Bắc Thần (sao Chính chủ), Sa, Thủy là Nhị Thập Bát Tú (sao phụ tá). Cũng như sao Bắc Đẩu có các sao khác chầu vào. Vậy sách nho có câu "Thí như Bắc Thần cư kỳ sở, nhi chúng Tinh củng chi" chính là bảo về nghĩa thế.
 
Liên hệ mua hàng : 0933 299 189 - 0899 779 189 - 0904 339 189 
DMCA.com Protection Status